icon LUẬT BẢO QUANG - TÂM TRÍ VẸN TOÀN

phone
Hotline

0945350227 -

mail
Mail

congtyluatbaoquang@gmail.com

Tiếng Việt Tiếng Anh

Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn, quyền nuôi con

Mục lục
    1. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

    Căn cứ Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định “1. Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”. Theo đó quyền yêu cầu ly hôn được xuất phát từ quyền tự do ly hôn, đã được Nhà nước ghi nhận nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng và các chủ thể liên quan. Quyền yêu cầu ly hôn là một trong những quyền tự do cơ bản của vợ chồng, là quyền nhân thân gắn liền với vợ chồng không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, phát sinh thông qua thực hiện quyền ly hôn trước pháp luật.

    Theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì ngoài quyền của vợ, chồng thì còn có chủ thể thứ ba cũng có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn để bảo đảm việc bảo vệ bên yếu thế trong đời sống hôn nhân gia đình quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “..2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ”.

    Về tình trạng không thể nhận thức hoặc làm chủ được hành vi của mình là tình trạng thực tế của vợ, chồng. Tình trạng này được xác định thông qua kết luận của cơ quan chuyên môn. Tuy nhiên, cần hiểu rõ, tình trạng không thể nhận thức hoặc làm chủ được hành vi này không hề đồng nhất với tình trạng mất năng lực hành vi dân sự của cá nhân quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”

    Về hành vi bạo lực gia đình, khoản 1 Điều 2 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định “1. Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”. Điều luật quy định hậu quả của hành vi bạo lực gia đình là gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại ở mức độ nghiêm trọng ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của vợ, chồng và hậu quả đó có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Để xác định được mức độ ảnh hưởng của bạo lực gia đình đối với sức khỏe, tính mạng và tinh thần thì cần có sự tham gia của các cơ quan y tế có chuyên môn.

    1. Quyền nuôi con khi ly hôn:

    Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định tại Điều 81 như sau:

    1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

    2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

    3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

    Theo đó nếu tại thời điểm ly hôn con dưới 36 tháng tuổi thì Tòa án sẽ giao cho mẹ nuôi con, trừ trường hợp mẹ không đáp ứng đủ điều kiện về tài chính, nơi ở, thời gian ... để chăm sóc cho con thì Tòa án có thể xem xét lại về người trực tiếp nuôi con.

    Trong trường hợp con từ đủ 36 tháng tuổi trở lên thì khi ly hôn quyền nuôi con ngang bằng giữa bố và mẹ. Để xem xét giao quyền nuôi con cho ai thì Tòa án sẽ căn cứ vào những giấy tờ, tài liệu mà bố, mẹ cung cấp về khả năng tài chính, nơi ở, quỹ thời gian, điều kiện sức khỏe và một số giấy tờ, chứng cứ, tài liệu như: Chứng cứ chứng minh về việc bố hoặc mẹ có hành vi bạo lực gia đình …. để quyết định ai sẽ giành được quyền nuôi con.

    Trường hợp tại thời điểm ly hôn mà con đã từ đủ 7 tuổi trở lên thì Tòa án phải lấy ý kiến của con xem con muốn ở với ai.

          Căn cứ theo Khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên, trường hợp cần thiết có thể mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em chứng kiến, tham gia ý kiến. Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên và các thủ tục tố tụng khác đối với người chưa thành niên phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người chưa thành niên, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, giữ bí mật cá nhân của người chưa thành niên.

    0945350227 0942610227
    Fanpage
    Map
    Zalo
    0945350227