Điều 75 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 quy định về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự như sau:
1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
2. Những người sau đây được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:
a) Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư;
b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý;
c) Đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong vụ việc lao động theo quy định của pháp luật về lao động, công đoàn;
d) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không có án tích hoặc đã được xóa án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; không phải là cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau. Nhiều người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án.
4. Khi đề nghị Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đề nghị phải xuất trình các giấy tờ sau đây:
a) Luật sư xuất trình các giấy tờ theo quy định của Luật luật sư;
b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc thẻ luật sư;
c) Đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động xuất trình văn bản của tổ chức đó cử mình tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động, tập thể người lao động;
d) Công dân Việt Nam có đủ điều kiện quy định tại điểm d khoản 2 Điều này xuất trình giấy yêu cầu của đương sự và giấy tờ tùy thân.
5. Sau khi kiểm tra giấy tờ và thấy người đề nghị có đủ điều kiện làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị, Tòa án phải vào sổ đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trường hợp từ chối đăng ký thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người đề nghị.
Khi tham gia tố tụng dân sự, nếu cần sự hỗ trợ từ người khác để giúp mình bảo vệ quyền, lợi ích trong vụ án dân sự thì đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự có thể nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có đủ điều kiện do pháp luật quy định. Khác với người đại diện do đương sự ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng dân sự bằng chính các quyền và nghĩa vụ của mình chứ không bằng quyền và nghĩa vụ của đương sự. Điều này có ý nghĩa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự giúp đỡ đương sự bằng cách hường dẫn, tư vấn, hỗ trợ đương sự để đương sự tự thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình chứ không quyết định thay, không làm thay đương sự. Trong tố tụng dân sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với đương sự và Tòa án, bởi với sự hỗ trợ, giúp đỡ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì đương sự sẽ bảo vệ hiệu quản hơn quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đối với Tòa án, thì Tòa án có thể nhìn nhận khách quan hơn vụ án, từ đó có quyết định đúng đắn hơn từ căn cứ pháp lý mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cung cấp cho Tòa án nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự. Do có ý nghĩa quan trọng nên BLTTDS 2015 quy định chỉ một số người mới được làm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự. Đó là Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về Luật luật sư; trợ giúp viên pháp lý; đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong vụ việc lao động theo quy định của pháp luật về lao động, công đoàn; công dân Việt nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không có án tích hoặc đã được xóa án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; không phải là cán bộ, công chứng trong ngành Tòa án, Viện kiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an. Nhìn chung người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người có kiến thức pháp lý, có kỹ năng tham gia tố tụng và nhiều người còn có kinh nghiệm tham gia tố tụng và để khách quan trong việc tham gia tố tụng dân sự, BLTTDS 2015 còn hạn chế cả những người có khả năng có các mối quan hệ xã hội làm ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án như cán bộ, công chức trong nghành Công an, Kiểm sát, Tòa án.
Để đảm bảo sự đúng đắn, hiệu quả trong hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì tại khoản 3 Điều 75 BLTTDS 2015 quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau hay nhiều người cùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 75 BLTTDS 2015, tùy theo từng trường hợp, người đề nghị được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải xuất trình được các giấy tờ cần thiết theo quy định để Tòa án có cơ sở chấp nhận đưa người đó vào tham gia tố tụng dân sự.
Thủ tục đăng ký tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ được hoàn tất trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nộp thủ tục đăng ký và Tòa án vào sổ đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sau khi kiểm tra đầy đủ các giấy tờ theo quy định và người đề nghị có đủ điều kiện làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trường hợp không xuất trình đủ các giấy tờ theo quy định/hoặc người đề nghị tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không đáp ứng đủ điều kiện do BLTTDS 2015 quy định thì Tòa án sẽ từ chối đăng ký, khi đó Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người đề nghị biết.
Quy định quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định tại Bộ luật Tố dụng Dân sự 2015
Điều 76. Quyền, nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1. Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự.
2. Thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
3. Tham gia việc hòa giải, phiên họp, phiên tòa hoặc trường hợp không tham gia thì được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cho Tòa án xem xét.
4. Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
5. Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; trường hợp được đương sự ủy quyền thì thay mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt hoặc thông báo và có trách nhiệm chuyển cho đương sự.
6. Các quyền, nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 6, 16, 17, 18, 19 và 20 Điều 70 của Bộ luật này.
7. Quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.
Theo quy định trên thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có vai trò rất quan trong trong việc bảo vệ hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khi tham gia tố tụng dân sự, tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ gia đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự; tham gia hòa giải, phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, phiên Tòa hoặc trường hợp không tham gia thì được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cho Tòa án xem xét; thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của BLTTDS; giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; trường hợp được đương sự ủy quyền thì thay mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt/hoặc thông báo và có trách nhiệm chuyển cho đương sự… Mặt khác, để thực hiện hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có quyền thu thập và cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án, được sao chụp, ghi chép tài liệu/chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trừ tài liệu/chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 BLTTDS 2015.

