icon LUẬT BẢO QUANG - TÂM TRÍ VẸN TOÀN

phone
Hotline

0945350227 -

mail
Mail

congtyluatbaoquang@gmail.com

Tiếng Việt Tiếng Anh

Những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Mục lục

    Điều 92. Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh

    1. Những tình tiết, sự kiện sau đây không phải chứng minh:

    a) Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận;

    b) Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;

    c) Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính.

    2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.

    3. Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện.

    Những tiết tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người điều biết và được Tòa án thừa nhận là những tình tiết sự kiện xảy ra trong thực tế, được mọi người chứng kiến, kể cả những người không quan tâm cũng không thể không biết. Những tình tiết, sự kiện này xảy ra trong thực tế và hậu quả của tình tiết, sự kiện này có thể gây thiệt hại cho một trong các đương sự. Nếu thiệt hại xảy ra từ các sự kiện, tình tiết này không phải chứng minh. Có những tình tiết, sự kiện mà mọi người điều biết như đã nêu ở trên thì khi vừa mới xảy ra thì đương sự chỉ cần nêu sự kiện, tình tiết. Tuy nhiên, cũng có những tình tiết, sự kiện mà vào thời điểm xảy ra ai cũng biết, nhưng vì xảy ra đã lâu nên cần phải nêu ra các chứng cứ để chứng minh các tình tiết, sự kiện đã thực sự xảy ra vào đúng thời điểm đó, như: có báo, đài, bản ghi hình, những người đã tận mắt chứng kiến cảnh đó…

    Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật cũng được BLTTDS 2015 xác định là thuộc những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Đối với những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được Công chứng, chứng thực hợp pháp thì không phải chứng minh. Trong trường hợp nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính. Ngoài ra Tòa án cũng cần xem xét kỹ, cẩn thận về tính xác thực của văn bản này. Cần phân biệt văn bản được chứng thực về nội dung hay chỉ chứng thực về hình thức và cần lưu ý là những tình tiết, sự kiện ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực thì không phải chứng minh nhưng nếu bên kia cho rằng văn bản đó không có giá trị pháp lý thì họ phải chứng minh.

    Theo khoản 2 Điều 92 BLTTDS 215 quy định một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Về mặt lý thuyết, nếu một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải bao giờ cũng xảy ra đúng như vậy. Có khi đương sự thừa nhận hoặc không phản đối một tình tiết, sự kiện nhưng sự thừa nhận đó không hoàn toàn phù hợp với thực tế khách quan và thậm chí, cả hai bên điều không có bất kỳ tranh chấp nào hoặc phản đối với tình tiết, sự kiện do một bên đưa ra nhưng chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án lại chứng minh ngược lại và trong trường hợp, nếu sự thừa nhận đó đều có lợi cho cả hai phía, không ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của bên thứ ba, không vi phạm đạo đức xã hội, điều cấm của pháp luật và không ảnh hưởng đến các vấn đề khác thì Tòa án công nhận sự thừa nhận đó để giải phóng đương sự khỏi nghĩa vụ chứng minh.

    Tại khoản 3 Điều 92 BLTTDS 215 quy định trong trường hợp đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện. Điều này cần xem xét kỹ về phạm vi quyền và nghĩa vụ của người đại diện, vì trong bất cứ trường hợp nào thì người đại diện cũng không được phép vượt quá phạm vi đại diện của mình.

    0945350227 0942610227
    Fanpage
    Map
    Zalo
    0945350227