Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết theo Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 thì Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kết, như vậy thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết, khi người có tài sản chết thì di chúc của người đó sẽ có hiệu lực. Và để người thừa kế có thể làm thủ tục nhận di sản thì bản di chúc này phải được công bố trước những người thừa kế theo điểm c khoản 3 Điều 641 Bộ luật Dân sự 2015. Di chúc phải được giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc, khi người lập di chúc chết. Việc giao lại bản di chúc phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người giao, người nhận và trước sự có mặt của ít nhất hai người làm chứng. Trên cơ sở đó, sau khi người lập di chúc chết, người đang giữ di chúc phải giao di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc và việc công bố này không bắt buộc phải cùng thời điểm với thời điểm mở thừa kế.
Người công bố di chúc theo Điều 647 Bộ luật Dân sự 2015 thì tùy vào việc di chúc có cử người công bố không hoặc người lập di chúc gửi di chúc tại đâu để xác định người công bố di chúc, như sau:
- Trường hợp di chúc bằng văn bản được lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng thì công chứng viên là người công bố di chúc. (Quá trình ký gửi di chúc, nếu tổ chức hành nghề công chứng nhận lưu giữ nhưng sau đó tổ chức này chấm dứt hoạt động, chuyển đổi hoặc giải thể thì trước khi chấm dứt hoạt động, chuyển đổi hoặc giải thể, tổ chức hành nghề công chứng phải thỏa thuận với người lập di chúc về việc chuyển cho tổ chức hành nghề công chứng khác lưu giữ di chúc. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì di chúc và phí lưu giữ di chúc phải được trả lại cho người lập di chúc. Trường hợp không liên hệ được với người lập di chúc thì di chúc được chuyển giao cho tổ chức hành nghề công chứng tiếp nhận hồ sơ của tổ chức hành nghề công chứng đã chấm dứt hoạt động, chuyển đổi hoặc giải thể.).
- Trường hợp người để lại di chúc chỉ định người công bố di chúc thì người này có nghĩa vụ công bố di chúc; nếu người để lại di chúc không chỉ định hoặc có chỉ định nhưng người được chỉ định từ chối công bố di chúc thì những người thừa kế còn lại thỏa thuận cử người công bố di chúc.
- Sau thời điểm mở thừa kế, người công bố di chúc phải sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc.
- Người nhận được bản sao di chúc có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc của di chúc.
- Trường hợp di chúc được lập bằng tiếng nước ngoài thì bản di chúc đó phải được dịch ra tiếng Việt và phải có công chứng hoặc chứng thực.
Tại khoản 2 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định về địa điểm mở thừa kế, nhưng hiện nay không có quy định cụ thể về địa điểm công bố di chúc, theo đó: Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản. Di chúc sẽ có hiệu lực tại thời điểm mở thừa kế là thời điểm người lập di chúc chết) nhưng pháp luật chỉ yêu cầu công bố di chúc sau khi mở thừa kế. Vì vậy thời điểm mở thừa kế trùng với thời điểm công bố di chúc: Địa điểm công bố di chúc sẽ trùng với địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người lập di chúc hoặc nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng và thời điểm công bố di chúc không trùng với thời điểm mở thừa kế trong trường hợp này pháp luật không quy định nên những người thừa kế có thể thỏa thuận lựa chọn địa điểm công bố di chúc.

