Theo quy định tại Điều 13 Bộ luật lao động 2019 thì hợp đồng lao động được hiểu như sau:
Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Như vậy, khi tham gia vào quan hệ lao động thì các bên buộc phải giao kết hợp đồng lao động và Hợp đồng lao động phải được giao kết thông qua hình thức được quy định tại Điều 14 Bộ luật lao động 2019 như sau:
Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.
2. Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật lao động 2019.”
Theo nội dung này thì ngưởi sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động trước khi làm việc và chỉ được giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói trong trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 (một) tháng.
Đối với 03 (ba) trường hợp sau đây dù thời hạn hợp đồng lao động dưới 01 (một) tháng thì người sử dụng lao động vẫn phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động, cụ thể:
Hợp đồng lao động do người được ủy quyền ký kết phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú và chữ ký của từng người lao động.
Quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động phải được xác lập bằng văn bản trừ trường hợp nêu tại khoản 2 Điều 14 của Bộ luật lao động 2019 và Bộ luật lao động 2019 quy định các loại hợp đồng lao động có thể được giao kết giữa các bên như sau:
c) Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trừ hợp đồng lao động đối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước và trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 151 và khoản 4 Điều 177 của Bộ luật lao động 2019.

