icon LUẬT BẢO QUANG - TÂM TRÍ VẸN TOÀN

phone
Hotline

0945350227 -

mail
Mail

congtyluatbaoquang@gmail.com

Tiếng Việt Tiếng Anh

Hành vi vu khống người khác sẽ bị xử lý thế nào theo Bộ luật Hình sự?

Mục lục

    Hành vi vu khống là hành vi bịa đặt hoặc lan truyền những thông tin sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác và tội vu khống được xác định dựa trên ba yếu tố cốt lõi là:

    - Có thông tin không đúng sự thật;

    - Người thực hiện biết rõ thông tin là sai sự thật;

    - Hành vi được thực hiện nhằm xâm phạm danh dự, nhân phẩm hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

    Ba yếu tố cốt lõi nêu trên là cơ sở quan trọng để phân biệt giữa quyền tố cáo hợp pháp, hành vi vi phạm hành chính và hành vi cấu thành tội phạm theo Điều 156 Bộ luật Hình sự:

    “Điều 156. Tội vu khống

    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

    a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

    b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

    c) Đối với 02 người trở lên;

    d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

    đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

    e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

    g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

    h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

    a) Vì động cơ đê hèn;

    b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên[80];

    c) Làm nạn nhân tự sát.

    4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

    Các yếu tố cấu thành tội vu khống:

    +Khách thể của tội phạm;

    +Mặt khách quan của tội phạm;

    +Chủ thể của tội phạm;

    + Mặt chủ quan của tội phạm.

    - Khách thể của tội phạm: Khách thể bị xâm phạm là quan hệ xã hội bảo vệ danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân, đây là quyền nhân thân được Hiến pháp và pháp luật hình sự bảo vệ. Danh dự, nhân phẩm là sự đánh giá của xã hội đối với một người, nhân phẩm gắn với giá trị làm người và uy tín phản ánh sự tin cậy trong quan hệ xã hội, nghề nghiệp, khi hành vi bịa đặt làm giảm sút sự đánh giá này, khách thể đã bị xâm phạm. Không phải mọi lời nói gây khó chịu đều cấu thành tội phạm mà pháp luật hình sự chỉ can thiệp khi hành vi đạt mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền nhân thân.

    - Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan thể hiện qua một trong các hành vi:

    + Bịa đặt thông tin sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại;

    + Loan truyền điều biết rõ là sai;

    + Bịa đặt việc người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

    Bịa đặt thông tin sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại: Bịa đặt là tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có đối với người khác như: Không quan hệ bất chính với người khác mà lại tố cáo là quan hệ bất chính với người khác, không nhận hối lộ lại tố cáo là nhận hối lộ, người đã tốt nghiệp cao đẳng/ đại học/đã bảo vệ luận văn thạc sĩ/tiến sĩ nhưng lại tố cáo họ là dùng bằng giả ….

    Loan truyền những điều biết rõ là sai: Việc loan truyền này có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như: Sao chép làm nhiều bản gửi đi nhiều nơi, kể lại cho người khác nghe, đăng tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, đăng bài trên các trang mạng xã hội Facebook, zalo, .... Người có hành vi loan truyền những điều biết rõ là sai có thể biết điều đó do ai bịa đặt hoặc cũng có thể chỉ biết đó là bịa đặt còn ai bịa đặt thì hoàn toàn không biết.

    Bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền: Yếu tố cốt lõi là tính sai sự thật của thông tin và hành vi phát tán ra bên ngoài, nếu thông tin không được truyền đạt cho người thứ ba, thường chưa đủ yếu tố cấu thành. Trong bối cảnh công nghệ số, hành vi có thể diễn ra qua mạng xã hội, nền tảng trực tuyến, email, đơn thư, hoặc phương tiện truyền thông/hoặc truyền miệng, viết bài, thơ ca/hò vè, đơn tố giác/thư nặc danh …. Phạm vi lan truyền càng rộng thì mức độ nguy hiểm cho xã hội càng lớn, có thể được xem xét là tình tiết định khung tăng nặng nhưng phải chứng minh được.

    Đây là trường hợp tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền về một tội phạm xảy ra và người thực hiện tội phạm hoàn toàn không có thực. Trên thực tế có nhiều trường hợp các cơ quan nhà nước nhận được tin báo về tội phạm/người phạm tội nhưng sau khi xác minh thấy không có tội phạm xảy ra đã không khởi tố vụ án hình sự hoặc tuy đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can thậm chí đã truy tố ra trước Toà án và Toà án đã kết án người bị tố cáo, nhưng sau khi kiểm tra lại toàn bộ các tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng thu thập thì mới xác định tội phạm và người phạm tội bị tố cáo là không có thực, nhưng không phải vì thế mà cho rằng người đã tố cáo đã có hành vi vu khống mà phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định người tố cáo không đúng đó có phải là vu khống hay không. Tất cả những hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt hoặc tố cáo sai người phạm tội với cơ quan có thẩm quyền đều nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi của người bị hại. Những thiệt hại này có thể có xảy ra hoặc cũng có thể chưa xảy ra. Hậu quả xảy ra là nạn nhân bị mất uy tín, danh dự hoặc bị thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Tội vu khống được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội thực hiện hành vi loan truyền những điều bịa đặt cho người khác biết hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước về việc người khác phạm tội.

    • Mặt chủ quan của tội phạm: Chủ thể thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp

    Tội vu khống chỉ được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ thông tin là sai nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích xúc phạm hoặc gây thiệt hại. Điểm mấu chốt nằm ở yếu tố biết rõ thông tin là sai nhưng vẫn thực hiện. Nếu người đưa tin tin rằng thông tin là đúng, có căn cứ nhất định, nhưng sau đó được xác định là không chính xác, thì cần đánh giá kỹ về lỗi. Trong nhiều trường hợp, hành vi có thể dừng lại ở vi phạm dân sự hoặc hành chính. Người phạm tội hoàn toàn nhận thức rõ được hậu quả xâm hại danh dự nhân phẩm của nạn nhân, thậm chí xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của nạn nhân nhưng người phạm tội hoàn toàn mong muốn hậu quả xảy ra.

    Động cơ phạm tội có thể do thù oán cá nhân, giữa người phạm tội và nạn nhân có thể từng xảy ra xích mích dẫn đến căm ghét nhau, người phạm tội chỉ mong muốn nạn nhân bị bêu xấu trước mặt mọi người. Trường hợp người phạm tội loan truyền thông tin sai sự thật nhưng họ không biết thông tin đó không đúng, vẫn nghĩ là đó là thông tin chính xác hoặc còn mơ hồ, phân vân xem thông tin đó đúng hay sai thì không phải chịu trách nhiệm về tội vu khống. Do đó, động cơ không phải dấu hiệu bắt buộc, nhưng thường xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân, cạnh tranh kinh doanh, tranh chấp tài sản hoặc mục đích gây áp lực trong quan hệ xã hội.

    Các khung hình phạt của tội vụ khống cụ thể như sau:

    - Khung 1: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

    Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

    a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

    b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

    - Khung 2: Phạt tù từ 01 năm đến 03 năm

    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

    c) Đối với 02 người trở lên;

    d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

    đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

    e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

    g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%

    h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

    - Khung 3: Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm

    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

    a) Vì động cơ đê hèn;

    b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    c) Làm nạn nhân tự sát.

    - Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    0945350227 0942610227
    Fanpage
    Map
    Zalo
    0945350227